HỒ CHÍ MINH

Admin

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Văn Lộc)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Từ điển online


    Image Hosted by ImageShack.us

    Tra theo từ điển:



    Ảnh ngẫu nhiên

    TienglongnguoiQuangxaque.swf Nguyen_hong.jpg Thanh_tinh.jpg Tuyet_roi.mp3 Nguoi_Me_Lang_Sen__Hong_Hanh_NCT_53634018790573437500.mp3 Chia_tay_nam_cu.swf Xuan_va_tt.swf Baby_Blue.mp3 Que_Son_Dat_me_an_tinh__Quang_Hao_NCT_06634066518846875000.mp3 Hoa_nang_buc_giang__Quoc_Thanh_NCT_71633882140909073750.mp3 25.jpg Chuc_mung_nam_moi5.swf Thiep.swf Happy_new_year1.swf Hoa_dao.jpg To_Huu.jpg Vien_Phuong.jpg Y_Phuong.jpg Co_hang_com.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Liên kết website

    Hình ảnh

    Truyện cười

    Cảnh đẹp Việt Nam!

    Đọc báo online

    CỘNG ĐỒNG VIOLET

    Gốc > BÀI VIẾT >

    Nghề thầy xưa và nay

     
    I. Sự nghiệp giáo dục nước Việt nam ta bắt đầu hình thành và phát triển từ đời Lý, khi việc học được coi trọng và làm nền tảng cho việc đào tạo và tuyển chọn nhân tài để kinh- bang – tế- thế. Nhà Lý đã lập trường Quốc tử giám , mở khoa thi tam trường để chọn người hiền tài chăm lo việc nước, việc dân. Nhà Lý và các nhà Trần, Lê, Nguyễn tiếp theo sau đã lập Văn Miếu ở Hà nội, Văn Thánh, Võ Thanh ở Huế và dựng bia đã khắc tên hiền tài để tôn vinh và lưu danh hậu thế.

    Đã có thi cử, tuyển trạch thì phải có sĩ tử, người học, người thi, và phải có người thầy làm công việc giảng dạy truyền đạt kiến thức và đạo lý làm người. Do đó đã hình thành vai trò của người Thầy.

    Tuy nhiên cứu cánh của sự dạy dỗ suốt cả thời kỳ Nho học qua các triều đại phong kiến suốt gần một nghìn năm không chỉ là truyền đạt kiến thức chữ nghĩa Thánh hiền, mà cốt lõi là đạo lý sống của bậc trí giả: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Người sở đắc chữ nghĩa của Thánh hiền là để tiến vi quan thối vị sư. Làm quan để phục vụ nước nhà, làm thầy để đào tạo người khác phục vụ. Người dạy và người học không lệ thuộc hẳn về thứ lớp của tuổi tác hay trình độ tri thức và bằng cái tâm, cái chí sở cầu. Thầy giáo được tôn xưng bậc trí giả, đức độ cao dày. Người thầy không hẳn vì đã là người thành đạt ở chồn trường thi nhưng chính vì cái trí và đức đã hấp thu được từ chữ nghĩa của bậc trí nhân quân tử và từ cái tâm và đức của người thầy. Đệ tử cũng cầu tìm thầy bằng cái tâm quyết chí” tầm sư học đạo “. Thầy có sở học và tâm đạo đến đâu thì truyền dạy cho môn sinh đến đó, nhưng tựu trung vẫn là dạy học. Các sách dạy và học như Tam thiên tự, Tú thư, Ngũ kinh, Luận ngữ...chỉ là phương tiện cho việc dạy và học . Sự thành đạt ở chốn quan trường tùy thuộc vào cái tâm và trí của thầy và trò mà có được. Điều thầy truyền dạy là đạo lý chữ nghĩa của thánh hiền. Người học không phải chỉ để biết mà để sống theo khuôn mẫu “ Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Người học được trọng nể và tôn vinh thành giai cấp đứng đầu xã hội theo thứ tự: sĩ, nông, công , thương, binh. Bởi đó mà vai trò của người thầy được tôn cao hơn cả bậc phụ mẫu sinh thành dưỡng dục và chỉ đứng sau bậc quân vương theo thứ bậc : quân, sư, phụ. Trò tôn vinh thầy là sư phụ không hẳn vì thầy đã dạy học trò thành đạt ở chốn trường thi, và nên danh phận ở xã hội, nhưng đôi khi đơn giản chỉ vì thầy đã góp tâm sức khai trí truyền dạy đạo lý làm người dù ít, dù nhiều bởi duyên trò được thầy. Tương quan thầy trò là tương quan sự đệ và đạo lý sư đệ rất được coi trọng theo châm ngôn” Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Một chữ dạy cũng là thầy, nữa chữ dạy cũng là thầy. Ơn thầy được trò ghi khắc đời đời. Trò trở lại thăm viếng thầy khi thành đạt và có người để tang thầy khi thầy lìa nhân thế. Ôi ! Nghĩa thầy trò cao đẹp làm sao!

    II. Từ đầu thế kỷ thứ 20, phong trào Tây học với chữ quốc ngữ bắt đầu đào tạo tầng lớp trí thức mới có tri thức cách tân, có sở học đa năng đa dụng nhằm phục vụ guồng máy chính quyền thuộc địa và xây dựng xã hội mới. Cơ sở giáo dục được tổ chức có hệ thống từ thấp lên cao, dù chưa rộng khắp. Người thầy bắt đầu được đào tạo có tính chuyên môn, nhưng cứu cánh giáo dục vẫn là đào tạo con người có tri thức và đạo đức để làm người sống hữu ích và tốt đẹp hơn.

    Nghề thầy vẫn tiếp tục được tôn vinh, việc học vẫn được coi trọng và truyền thống “ Tôn sư trọng đạo” vẫn mãi là đạo lý thầy trò. Dù là hương sư dạy bậc sơ học ở trường làng, dù là đốc học hay giáo sư dạy ở bậc trung, đại học thì tất cả đều được tôn vinh là thầy giáo và được học trò, phụ huynh cũng như xã hội kính trọng. Đầu thế kỷ thứ 20 ít có người nữ làm cô giáo mặc dù có biết bao hiền mẫu dạy con rất nên người. Trong giai đoạn này, thầy giáo vẫn còm là nghề tự phát của người có học thức, có tâm chí muốn góp phần xây dựng xã hội. Số người làm nghề thầy và người học còn rất hạn chế, thầy không dạy vì đồng lương và trò không học vì học phí. Mãi đến thập niên 1950, bắt đầu có các lớp sư phạm và trường sư phạm được mở tại Sài Gòn, Hà Nội và Huế để đào tạo cán bộ giáo dục ở bậc tiểu học, trung học và đại học, nhưng số lượng chính quy vẫn còn hạn chế và sự nghiệp giáo dục chưa mấy phổ cập.

    Người đi học vẫn chỉ dành cho con nhà khá giả ở thành thị hoặc cho những ai tự vượt qua được khó khăn của cuộc sống. Thầy cô giáo là hình tượng để cho học sinh ngưỡng mộ về tư cách đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tri thức truyền giảng. Thầy cô giáo rất gương mẫu trong lời nói cử chỉ, ngay thẳng trong việc làm, lịch sự trong trang phục, đạo đức trong quan hệ. Hầu như không có trường hợp tai tiếng về tư cách của người thầy trong quan hệ thầy trò, học đường và gia đình xã hội.

    Nhưng từ khi nhu cầu học vấn bùng nổ và sở học là cứu cánh để tiến thân trong cuộc sống thì số người học cao lên, đội ngũ nghề thầy cũng đông lên. Cuộc sống con người phát triển nhiều mặt đến nỗi mục đích giáo dục không đáp ứng kịp thời nhu cầu tri thức của con người trong cuộc sống. Do đó định hướng giáo dục có khi võ đoán phiến diện, kết quả là con người được đào tạo có tri thức, nhưng đạo đức được un đúc một cách giáo điều. Hệ lụy là xã hội đầy rẩy những tri thức giả tạo, lắm kẻ đạo đức giả, học đường không xứng danh là nơi sản sinh ra bậc hiền giả, tri thức như xưa và nghề thầy bị đánh đồng như bao nghề khác trong xã hội, không còn địa vị hằng được tôn vinh. Thậm chí có nơi trường học hoặc cơ sở giáo dục đào tạo có hình thái của chợ chữ: Nhà quản lý bán chữ của thầy cô giáo và trò là người mua chữ. Thầy cô là lao động chữ nghĩa, không cò được ngưỡng mộ và kính trọng như xưa. Thực trạng đã đến lúc có người phải kêu gọi chấn hưng đạo đức và trách nhiệm giáo dục tại học đường.

    III. Tôi may mắn được học với những thầy giáo trong thập niên 1940 và suốt thập niên 1950, dù họ là thầy giáo sơ học, tiểu học hay trung học và dạy trường sư phạm, tất cả là những bậc thầy khả kính, đáng nể phục về đạo đức và tri thức. Tôi luôn nhớ đến hình ảnh các thầy dạy tôi ở bậc tiều học ngày xưa, các thầy đều có tuổi, phong cách của một công chức thời Pháp thuộc. Các thầy luôn chỉnh tề trong trang phục: sơ mi, cà vạt và veston, theo mùa, đoan trang trong lời nói, cử chỉ, đạo mạo và khả kính vô cùng. Các thầy dạy tôi ở bậc trung học trẻ trung hơn, nhưng vì tác phong nghề nghiệp mà các thầy cũng rất nghiêm về trang phục, ngôn ngữ, cử chỉ; đặc biệt các cách giảng dạy khi đứng lớp, thật uyên bác và sinh động. Đặc biệt các thầy dạy sư phạm thì thật mẫu mực trong mọi sự, trước mắt giáo sinh là những người thầy tương lai. Tư cách các thầy đã ảnh hưởng nhiều đến tư cách thầy giáo của bản thân tôi và các bạn đồng môn, đồng nghiệp sau này.

    Suốt gần 50 năm, dù xã hội có nhiều biến chuyển nhưng đối với tôi nghề thầy vẫn là niềm vui, là niềm tự hào suốt đời. Tôi luôn thể hiện tư cách tốt của một người thầy mà tôi đã hấp thụ được từ các bậc thầy khả kính của tôi. Bản chất nhà giáo từ khi còn trai trẻ đến nay không thay đổi, và tôi vui lòng là đã góp phần đào tạo nhân tài cho xã hội, đặc biệt có nhiều người tiếp bước vai trò thầy cô giáo có danh trong ngành giáo dục ngày nay. Tất cả vẫn giữ được tình nghĩa thầy trò dù đã ở tuổi hưu trí.

    Mong sao các nhà giáo dục và cải cách có chương trình chấn hưng giáo dục, phát huy đạo đức và trách nhiệm của người thầy đối với sự hưng vong của quốc gia xã hội theo phương ngôn “ Lương sư hưng quốc” và nhân tài là sản phẩm của một nền giáo dục tốt.

    Thầy Hồ Ngọc Thanh
    (thầy giáo trường Đông giang đã nghỉ hưu)
     
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Lộc @ 09:13 06/02/2010
    Số lượt xem: 352
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến