Gốc > ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ QUẢNG >
Nguyễn Văn Lộc @ 13:18 24/09/2009
Số lượt xem: 409
Hát ru xứ Quảng
Hát ru là bài học vỡ lòng âm nhạc dân tộc, bước đầu tiên thiết lập mối quan hệ xã hội (mẹ và con). Hát ru là tiếng lòng, là tiếng nói tình cảm trong lành trong tâm hồn người mẹ. Người mẹ không những nuôi con bằng dòng sữa ngọt ngào mà còn nuôi dưỡng những tiềm năng sáng tạo, cũng như tạo sự tiếp bước trí tuệ cho đứa con của mình trên vạn nẻo đường được thông qua tiếng hát, lời ru.
Âm nhạc dân gian truyền thống luôn gắn liền với đời sống thực thể và mô tả hoạt động tự nhiên theo quy luật của cái đẹp, điều này có nghĩa là sự chọn lọc trong cách phản ánh hoạt động ấy bằng hình tượng nghệ thuật thông qua âm thanh và nhịp điệu. Cho nên một bài hát ru không ngoài quy luật ấy và không chỉ để ru trẻ ngủ, mà nó còn là một tác phẩm nghệ thuật.
Thương em tóc mới chấm vai
Gắng công chờ đợi tóc em dài xuống lưng
Tới lui thăm bạn cho biết chừng
Tai nghe họ nói dửng dừng dưng cho nàng
Tới lui sợ miệng thế gian
Con bây chừ anh rõ thiệt là nàng có đôi
Lâm tình chung không biết xở mần răng cho rồi
Nét đặc trưng của hát ru xứ Quảng không chỉ về âm điệu tiết tấu giai điệu mà còn qua phong cách, âm sắc, dấu giọng, cách sắp xếp thanh trắc - thanh bằng một cách ngẫu nhiên (hoặc có chủ đích của các nghệ nhân dân gian) cho phù hợp với ngữ âm, ngữ điệu của giọng nói địa phương cũng như lối kết cấu câu, đoạn muôn hình muôn vẻ. Điều này làm cho hát ru xứ Quảng mang tính đặc thù rõ nét.
Tuổi vừa mười tám đôi mươi
Không ăn cũng thiệt, không chơi cũng già
Thôi thôi chẳng nghĩ gần xa
Xin em thu xếp việc nhà cho anh
Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc
Địa sanh thảo hà thảo vô căn
Bạn có chê ta duyên không xứng, nợ không bằng
Thì bạn về xứ bạn kiếm nơi mô chiếu trải vừa căn cho bạn ngồi...
Nằm trong hệ thống âm nhạc dân gian truyền miệng nên hát ru xứ Quảng cũng chịu ảnh hưởng hoặc tiếp nhận những bài hát của nhiêu vùng đất khác:
Một thương má đỏ hây hây
Hai thương ngọc trắng như tay cô nàng
Ba thương con mắt hữu tình
Bốn thương gót bước như hình hoa sen
Năm thương mái tóc xanh đen
Sáu thương ăn nói khéo nên nhẹ nhàng
Bảy thương cười nói đoan trang
Tám thương mày liễu đôi hàng thanh minh
Chín thương mỗi vẻ mỗi xinh.
Mười thương tình ý như hình mến ta.
Hát ru xứ Quảng trong âm nhạc dân gian có nhiều làn điệu, cách thể hiện gần như giống nhau, thường được hát theo thể thơ 6/8 và có tiếng đưa hơi xuất hiện ở đầu câu, có khi thỉnh thoảng được chen vào giữa câu 8 hoặc 10:
Con ơi con ngủ cho muồi
Nước non ai gánh mẹ ngồi ru con
Mẹ còn nặng gánh hai vai
Quanh năm suốt tháng không nài đắng cay
Vì con vất vả đêm ngày
Mong con khôn lớn có ngày thành danh.
Hoặc:
Con ơi! Nhớ lời mẹ kể trước đây
Miệng mẹ nhai cơm búng lưỡi lừa rày cá xương
Đêm khuya nằm ngủ trên giường
Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn
Nuôi con chân tóc kẻ răng
Khi nóng khi nguội mẹ rờ mẹ thăm...
Ở trường hợp khác, có khi người hát thay đổi một phần kết cấu, hoặc thay đổi địa danh, kinh nghiệm hoặc dựa vào một thời điểm, lịch sử... để vận dụng câu hát ru cho phù hợp.
Ai về Trà Đõa thì về
Khoai lang ngọt nước chè xanh nặng tình...
Hoặc:
Có gió lung mới biết tùng bá cứng
Có ngọn lửa hừng mới rõ thức vàng thau…
Và:
Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát
Đường Bình Đào lắm cát (mà) dễ đi...
Hay là:
Con ơi con ngủ cho rồi
Nước non ai gánh mẹ ngồi ru con
Chín năm đời sống hao mòn
Còn quân giặc Pháp ta còn chia xa
Bày trò giả dối điêu ngoa
Làm cho tan cửa nát nhà hại dân
Lầm than khốn khổ trăm chiều
Xóm làng trơ trụi, ruộng vườn quạnh hiu...
Một trong những nguyên nhân khiến có nhiều dị bản trong tác phẩm văn học dân gian là do “tam sao thất bản”; trong khi đó hát ru thuộc nghệ thuật thanh nhạc (tức dùng giọng người) nên tính dị bản lại càng cao, vì nó hoàn toàn phụ thuộc vào thanh điệu, ngữ điệu, cũng như ngôn ngữ của mỗi địa phương, mỗi vùng miền. Chẳng hạn, bài hát ru xứ Quảng quen thuộc có rất nhiều dị bản là:
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say
Bạn về nhịn ngủ gác tay
Coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em“
Hoặc:
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say
Sầu tình ai muốn đi vay
Nợ tình em trả biết mấy ngàn ngày cho xong” ?
Và:
"Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say
Trường Giang sông nước vơi đầy
Bao giờ sông chảy tới ngày đoàn viên" ...
(…)
Lời hát ru xứ Quảng luôn mặn mà, sâu nặng nghĩa tình; tuy mộc mạc chân chất nhưng vẫn không kém về giá trị âm nhạc và nghệ thuật. Những lời hát ru của xứ Quảng sẽ còn sống mãi với thời gian, với vành nôi thân thương, chứa đầy tính giáo dục nhân văn cao cả, không những mang ý nghĩa xã hội tốt đẹp - nhằm để siết chặt các mối quan hệ gắn kết, xích lại gần nhau hơn giữa con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, giữa tình cảm bao la của người mẹ dành cho đứa con yêu dấu của mình; mà còn là một gia tài văn hóa phi vật thể đáng được trân trọng, bảo tồn và phát huy.
tg: XA VĂN HÙNG

Âm nhạc dân gian truyền thống luôn gắn liền với đời sống thực thể và mô tả hoạt động tự nhiên theo quy luật của cái đẹp, điều này có nghĩa là sự chọn lọc trong cách phản ánh hoạt động ấy bằng hình tượng nghệ thuật thông qua âm thanh và nhịp điệu. Cho nên một bài hát ru không ngoài quy luật ấy và không chỉ để ru trẻ ngủ, mà nó còn là một tác phẩm nghệ thuật.
Thương em tóc mới chấm vai
Gắng công chờ đợi tóc em dài xuống lưng
Tới lui thăm bạn cho biết chừng
Tai nghe họ nói dửng dừng dưng cho nàng
Tới lui sợ miệng thế gian
Con bây chừ anh rõ thiệt là nàng có đôi
Lâm tình chung không biết xở mần răng cho rồi
Nét đặc trưng của hát ru xứ Quảng không chỉ về âm điệu tiết tấu giai điệu mà còn qua phong cách, âm sắc, dấu giọng, cách sắp xếp thanh trắc - thanh bằng một cách ngẫu nhiên (hoặc có chủ đích của các nghệ nhân dân gian) cho phù hợp với ngữ âm, ngữ điệu của giọng nói địa phương cũng như lối kết cấu câu, đoạn muôn hình muôn vẻ. Điều này làm cho hát ru xứ Quảng mang tính đặc thù rõ nét.
Tuổi vừa mười tám đôi mươi
Không ăn cũng thiệt, không chơi cũng già
Thôi thôi chẳng nghĩ gần xa
Xin em thu xếp việc nhà cho anh
Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc
Địa sanh thảo hà thảo vô căn
Bạn có chê ta duyên không xứng, nợ không bằng
Thì bạn về xứ bạn kiếm nơi mô chiếu trải vừa căn cho bạn ngồi...
Nằm trong hệ thống âm nhạc dân gian truyền miệng nên hát ru xứ Quảng cũng chịu ảnh hưởng hoặc tiếp nhận những bài hát của nhiêu vùng đất khác:
Một thương má đỏ hây hây
Hai thương ngọc trắng như tay cô nàng
Ba thương con mắt hữu tình
Bốn thương gót bước như hình hoa sen
Năm thương mái tóc xanh đen
Sáu thương ăn nói khéo nên nhẹ nhàng
Bảy thương cười nói đoan trang
Tám thương mày liễu đôi hàng thanh minh
Chín thương mỗi vẻ mỗi xinh.
Mười thương tình ý như hình mến ta.
Hát ru xứ Quảng trong âm nhạc dân gian có nhiều làn điệu, cách thể hiện gần như giống nhau, thường được hát theo thể thơ 6/8 và có tiếng đưa hơi xuất hiện ở đầu câu, có khi thỉnh thoảng được chen vào giữa câu 8 hoặc 10:
Con ơi con ngủ cho muồi
Nước non ai gánh mẹ ngồi ru con
Mẹ còn nặng gánh hai vai
Quanh năm suốt tháng không nài đắng cay
Vì con vất vả đêm ngày
Mong con khôn lớn có ngày thành danh.
Hoặc:
Con ơi! Nhớ lời mẹ kể trước đây
Miệng mẹ nhai cơm búng lưỡi lừa rày cá xương
Đêm khuya nằm ngủ trên giường
Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn
Nuôi con chân tóc kẻ răng
Khi nóng khi nguội mẹ rờ mẹ thăm...
Ở trường hợp khác, có khi người hát thay đổi một phần kết cấu, hoặc thay đổi địa danh, kinh nghiệm hoặc dựa vào một thời điểm, lịch sử... để vận dụng câu hát ru cho phù hợp.
Ai về Trà Đõa thì về
Khoai lang ngọt nước chè xanh nặng tình...
Hoặc:
Có gió lung mới biết tùng bá cứng
Có ngọn lửa hừng mới rõ thức vàng thau…
Và:
Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát
Đường Bình Đào lắm cát (mà) dễ đi...
Hay là:
Con ơi con ngủ cho rồi
Nước non ai gánh mẹ ngồi ru con
Chín năm đời sống hao mòn
Còn quân giặc Pháp ta còn chia xa
Bày trò giả dối điêu ngoa
Làm cho tan cửa nát nhà hại dân
Lầm than khốn khổ trăm chiều
Xóm làng trơ trụi, ruộng vườn quạnh hiu...
Một trong những nguyên nhân khiến có nhiều dị bản trong tác phẩm văn học dân gian là do “tam sao thất bản”; trong khi đó hát ru thuộc nghệ thuật thanh nhạc (tức dùng giọng người) nên tính dị bản lại càng cao, vì nó hoàn toàn phụ thuộc vào thanh điệu, ngữ điệu, cũng như ngôn ngữ của mỗi địa phương, mỗi vùng miền. Chẳng hạn, bài hát ru xứ Quảng quen thuộc có rất nhiều dị bản là:
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say
Bạn về nhịn ngủ gác tay
Coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em“
Hoặc:
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say
Sầu tình ai muốn đi vay
Nợ tình em trả biết mấy ngàn ngày cho xong” ?
Và:
"Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say
Trường Giang sông nước vơi đầy
Bao giờ sông chảy tới ngày đoàn viên" ...
(…)
Lời hát ru xứ Quảng luôn mặn mà, sâu nặng nghĩa tình; tuy mộc mạc chân chất nhưng vẫn không kém về giá trị âm nhạc và nghệ thuật. Những lời hát ru của xứ Quảng sẽ còn sống mãi với thời gian, với vành nôi thân thương, chứa đầy tính giáo dục nhân văn cao cả, không những mang ý nghĩa xã hội tốt đẹp - nhằm để siết chặt các mối quan hệ gắn kết, xích lại gần nhau hơn giữa con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, giữa tình cảm bao la của người mẹ dành cho đứa con yêu dấu của mình; mà còn là một gia tài văn hóa phi vật thể đáng được trân trọng, bảo tồn và phát huy.
tg: XA VĂN HÙNG
Nguyễn Văn Lộc @ 13:18 24/09/2009
Số lượt xem: 409
Số lượt thích:
0 người
 
- Về chầu liệt thánh lòng son đấy (24/09/09)
- Làng đúc Phước Kiều (24/09/09)
- Làng mộc Kim Bồng (24/09/09)
- Làng gốm Thanh Hà (24/09/09)
- Bao giờ nhỉ tôi về thăm xứ Quảng (23/09/09)



Các ý kiến mới nhất